Hồng Giòn, Hồng Giòn Đà Lạt

Hồng giòn hay hồng không chát, lớn gấp 4 lần quả hồng ngâm truyền thống, quả đào không lông, chín sớm hay xoài “khủng” từ Úc đã được trồng và có mặt trên thị trường Việt Nam chính là kết quả của mối quan hệ hợp tác hữu nghị Việt-Úc suốt mấy thập kỷ qua.

hồng giòn đà lạt

Quả hồng giòn Đà Lạt chứa 12 – 16% đường, chủ yếu là đường glucose và fructoze, lượng axít thấp 0,1%. Trong 100g thịt quả có chứa 0,16mg caroten, 16mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin PP, B1, B2 và các hợp chất hữu cơ…


hồng giòn đà lạt

Quả hồng được dùng rộng rãi để ăn tươi cũng như phơi khô. Trong khi phơi khô chúng được phủ 1 lớp đường và lượng đường có thể tăng đến 60 – 62%. Quả hồng còn dùng để làm thuốc.

Theo GS. Vũ Văn Chuyên (1985), quả hồng ngâm rượu uống là một vị thuốc bổ để chống suy nhược. Tai quả phơi hoặc sấy khô gọi là “Thị đế” dùng chữa ho, nấc, đầy bụng. Khi làm mứt, đường tiết ra gọi là “Thị sương” có đường manit dùng chữa đau và khô cổ họng.

Nước ép từ quả hồng chưa chín phơi hay sấy khô gọi là “Thị tất” dùng chữa huyết áp cao.

Đông y dùng quả hồng làm thuốc chữa tiêu chảy, ho, đái dầm.. Vỏ, rễ, thân cây hồng được dùng làm thuốc cầm máu.

Theo Đông y, quả hồng vị ngọt chát, tính bình, có tác dụng chữa tiêu chảy, trĩ, đái dầm, háo khát, ho có đờm và các chứng nôn mửa, lo nghĩ, phiền uất… Tai hồng (còn gọi là thị đế) vị đắng chát, tính ấm, không mùi, chất cứng giòn chứa trong tai hồng là tanin. Vỏ, rễ thân cây hồng còn được dùng làm thuốc cầm máu. Quả hồng chín có tỷ lệ đường rất cao, khoảng 14-20%, các muối Fe, Ca, P; vitamin A, B, C… Đặc biệt, lượng tanin rất cao ở quả hồng còn xanh. Chất Shibuol chứa trong quả hồng là hỗn hợp của acid gallic và phloroglaciol, có tác dụng làm hạ huyết áp.